Chưa thấy ai kỳ cục giống Tà Đùng. Lần đầu tiên trình diện, vừa cất tiếng gọi “Tà Đùng ơi” thì bỗng đâu ào tới một cơn mưa. Giám đốc Vườn Quốc gia Tà Đùng Khương Thanh Long nói với tôi: “Đại ngàn chào em đấy. Ở đây đôi khi rừng vẫn có cách chào hỏi rất riêng”.
Tôi xoay một vòng 360 độ nhìn tám hướng bốn phương. Tà Đùng hùng vĩ mà gần gũi quá. 21 nghìn hecta bao gồm cả núi, cao nguyên, bình địa và lòng hồ, nước mặt… Có cảm giác con người đang lọt thỏm trong vòng tay giăng giăng vây kín của màu xanh. Một không gian bao la xanh thẫm như bức tranh thủy mặc người họa sĩ nhỡ tay đánh đổ lọ mực màu xanh vào toan vẽ một cách có ý đồ. K,tang – “kiểm lâm viên” không sắc phục kiêm ca sĩ người dân tộc Mạ đi cùng Long khoát tay chỉ về phía những cánh rừng xa xa. Anh quả quyết, Tà Đùng là vùng đất ngự trị của thần linh. “Kia, màu xanh phủ trên các dải núi là chiếc khăn của chàng trai, còn màu xanh mềm mại hơn nơi 5 nghìn hecta mặt nước lòng hồ là chiếc khăn của người con gái. Họ là hai vị thần được mẹ thiên nhiên ban cho Tà Đùng để rừng không cô độc, rừng mãi mãi sinh sôi”.
Không ngờ bài học vỡ lòng về Tà Đùng lại đột ngột bắt đầu bằng những câu chuyện kích thích trí tò mò bởi cách kể hồn nhiên của K,tang và nụ cười có phần “bí hiểm” của Long, nó khác với những gì tôi tưởng tượng ra trước đó. Chưa biết đâu là thực là hư, nhưng nếu xét “tiểu sử” Tà Đùng thì thực ra hai con người trong trí tưởng tượng của K,tang đã từng lạc nhau rất lâu. Lúc mà nơi đây chỉ mỗi núi với cây rừng và muông thú, còn lòng chảo như các tiểu thung lũng vẫn trơ đáy và chiếc thuyền duyên phận vẫn loay hoay đâu đó thì lời thề hẹn vẫn treo mãi trên đỉnh B’nâm Tào Dung. Treo mãi, đêm đêm thần Gió đi qua, đêm đêm thần Muối đi qua, không ai giúp chàng trai tìm được người con gái. Chỉ đến khi con người nghĩ ra cách ngăn dòng để nước ngập lòng hồ thì mối lương duyên mới vẹn thành.
Trong cuộc đời của mình, tôi đã nghiệm ra ở đâu có sự “môi giới” của thiên nhiên, ở đó, khoảng cách giữa con người nhanh chóng xóa nhòa. Như giữa chúng tôi ở Tà Đùng cũng có thể được xem như vậy. Sau cái buổi chiều đầu tiên trôi qua rất nhanh, đêm đó, những con người từ các vùng rừng, hạt kiểm lâm, trạm, chốt… trở về để chuẩn bị cho Lễ Chào cờ sáng thứ Hai trong tuần đầu tiên của tháng đã tụ tập quây quần bên nhau. Bữa cơm có thịt lợn nuôi, cá hồ và rau rừng. Nếu ai đó muốn vào làm khách Vườn Quốc gia Tà Đùng để thưởng thức đặc sản của rừng thì có chăng chỉ có thể là lá bép – thứ lá ưa mọc ở những vùng rừng ẩm ướt. Bằng không, những thứ như chim muông, thịt thú rừng là… tuyệt đối không. Nếu lời này chỉ có riêng tôi và Long, tôi cho rằng có thể anh nói để làm màu. Nhưng trước rất đông cán bộ, nhân viên, kiểm lâm viên, đó chắc chắn là sự thật. Sự thật đôi khi vẫn được kiểm chứng bằng cách rất giản đơn.
và cây lâu năm
Khương Thanh Long – người đã xem rừng là một phần đời không thể thiếu của mình với ngót 30 năm gắn bó chưa quên được mươi năm về trước, khi những cánh rừng bị xâm phạm không thương tiếc, anh cảm thấy đớn đau như ai đó đang cầm dao lóc nham nhở vào da thịt của chính mình. Vậy nên sau thành công ban đầu của hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng thì phát triển kinh tế thông qua trao đổi tín chỉ các bon thu được từ rừng là bài toán mà anh mong đợi nhất. Nếu đúng như những gì đặt ra, điều này không chỉ đáp ứng một phần thu nhập nâng cao đời sống cho nhân viên mà còn tăng hiệu quả giữ rừng. Khi giá trị kinh tế thu được càng lớn sẽ đồng nghĩa với việc rừng càng được giữ gìn phát triển. Và khi đó, những kiểm lâm viên, nhân viên làm nhiệm vụ bảo vệ rừng của anh không chỉ được hưởng không khí trong lành từ rừng mà còn được thụ hưởng thành quả kinh tế do rừng mang lại.
Anh nói một thôi trong xúc động. Tôi nhìn thấy một Long khác thẳm sâu bên trong Giám đốc Khương Thanh Long – người nổi tiếng “nguyên tắc” đang nắm giữ chiếc chìa khóa kho báu Tà Đùng và rất nhiều bí mật, bí quyết giữ rừng, nhất là bí quyết bảo vệ cây quý, vùng rừng cấm theo phương cách “gia truyền”. Trong câu chuyện, dù có thân quý đến bao nhiêu thì Long vẫn không tiết lộ những gì thuộc về bí mật giữ rừng mà chỉ có anh và những người thực hiện bí quyết ấy được phép biết. Tôi hiểu và càng thêm trân trọng bởi tôi đâu phải là một phần ruột thịt của Tà Đùng.Tôi như chim sẻ chim sâu được người mang vào thưởng thức đại ngàn rồi vội vã bay ra. Rất nhiều người cũng như tôi, đến rồi đi. Chỉ có những người giữ rừng thủy chung ở lại. Tôi không cố gắng đi tìm bí quyết nhà nghề của Long. Và nếu ai đó hỏi tôi ước gì sau chuyến công tác Tà Đùng, tôi cũng sẽ không ước đọc được những gì mà các anh không nói. Bởi với tôi, đó là thể hiện sự tôn trọng những người giữ rừng; nhưng với các anh, đó còn là lời thề thiêng liêng với rừng mà bằng bất cứ giá nào cũng không thể đánh đổi, xâm phạm được!