Quảng Bình phục dựng lễ cúng Giang Sơn của đồng bào Rục

Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Quảng Bình vừa tổ chức phục dựng, bảo tồn lễ cúng Giang Sơn của đồng bào Rục (dân tộc Chứt) tại xã Thượng Hóa (huyện Minh Hóa, Quảng Bình).


Già làng làm lễ cúng Giang Sơn của đồng bào Rục tại xã Thượng Hóa (huyện Minh Hóa, Quảng Bình).


Lễ cúng Giang Sơn của đồng bào Rục nhằm cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, gia đình, bản làng yên ổn, người dân vào rừng săn bắt, hái lượm được may mắn, đồng bào Rục thường tổ chức lễ cúng Giang Sơn vào tháng 9 âm lịch hàng năm. Lễ cúng cũng là dịp để trả lễ, cảm ơn đấng bề trên đã phù hộ độ trì, bảo hộ cho cuộc sống được yên bình, no ấm.

Tại lễ cúng, già làng dùng hai miếng gỗ ngắn làm bằng thanh cây tre hoặc nứa có mặt vỏ và mặt ruột ném vào một con dao để xin keo bằng hình thức sấp ngửa, xác tín cho sự có mặt của các thần cũng như các thần đã chấp nhận lòng thành và lễ vật của người dân hay chưa.

Già làng sẽ gọi mời các vị thần ảnh hưởng đến cuộc sống du canh du cư, thổ thần đất đai và những người dân bản đã khuất cũng về chứng giám và thụ hưởng lễ vật. Trong quá trình làm lễ, già làng cũng nhắc nhở các thành viên của bản về trách nhiệm bảo vệ rừng, phát huy tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng.


Lễ cúng cũng là dịp để trả lễ, cảm ơn đấng bề trên đã phù hộ độ trì, bảo hộ cho cuộc sống được yên bình, no ấm.

Phục dựng, bảo tồn lễ cúng Giang Sơn của đồng bào Rục nhằm nâng cao nhận thức của người dân địa phương trong công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Chứt. Đồng thời, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và du lịch trên địa bàn.

Đây là hoạt động thuộc nhiệm vụ “Khôi phục, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số rất ít người”, thuộc Dự án 6 “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch”, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.

Tá Chuyên 

Dân tộc Chứt

Tên tự gọi: Chứt.

Tên gọi khác: Rục, Arem, Sách.

Nhóm địa phương: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng.

Dân số: 6.022 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Quê hương xưa của người Chứt thuộc địa bàn cư trú của người Việt ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Vì nạn giặc giã, thuế khoá nặng nề nên họ phải chạy lên nương náu ở
vùng núi, một số dần dần chuyển sâu vào vùng phía tây thuộc hai huyện
Minh Hoá và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Theo gia phả của một số dòng họ
người Việt trong vùng thì các nhóm Rục, Sách cư trú tại vùng núi này ít
nhất đã được trên 500 năm nay.

Hoạt động sản xuất:
Người Chứt sống bằng nông nghiệp nương rẫy du canh và săn bắn hái lượm.
Trừ nhóm Sách sống bằng nông nghiệp còn các nhóm khác hái lượm và săn
bắn chiếm vị trí quan trọng, thậm chí là nguồn sống chính trong những
năm mất mùa. Các giống cây trồng chính là ngô, sắn, đỗ, lúa.

Công cụ sản xuất gồm: rìu, rựa, gậy chọc
lỗ, nơi làm ruộng có thêm cày, bừa. Từ khi định cư, người Chứt đã nuôi
trâu, bò phục vụ cày bừa, làm sức kéo. Ðan lát chủ yếu do nhu cầu tiêu
dùng trong gia đình. Ðôi nơi họ biết thêm nghề rèn dao, rìu.

Ăn: Lương thực chủ yếu
là ngô, sắn. Ngày ăn hai bữa trưa và tối. Những năm mất mùa, họ phải ăn
bột báng (bột nhúc) đồ thay cơm quanh năm.

Mặc: Người Chứt không biết dệt vải, vải mặc mua hoặc trao đổi với người Việt, người Lào
trong vùng giáp biên. Mùa hè, nam giới đóng khố, cởi trần. Phụ nữ mặc
váy. Mùa đông, họ mặc áo làm bằng vỏ cây. Hiện nay đồng bào ăn mặc giống
như người Việt.

: Họ quen ở trong các
túp lều dùng dây buộc, dùng cột ngoãm hay ở trong các hang đá, mái đá.
Cho đến trước năm 1954 các nhóm Rục, Arem chủ yếu vẫn sống trong các
hang đá, mái đá. Ngày nay, họ sống tập trung ở các bản nhỏ trong các
thung lũng. Nhà cửa đã khang trang hơn trước.

Phương tiện vận chuyển: Phổ biến là gùi có dây đeo vai, vác hoặc người kéo.

Quan hệ xã hội: Người
Chứt gọi làng là Cà Vên. Mỗi làng thường chỉ có dăm bảy hoặc mười gia
đình của một dòng họ cư trú. Ðôi khi các gia đình trong một họ lại cư
trú ở nhiều làng khác nhau. Ðứng đầu mỗi làng là Pừ Cà Vên. Ông ta giữ
luôn cả vai trò tôn giáo.

Sinh hoạt tập thể, quan trọng nhất trong
làng là vào những dịp lễ tết nông nghiệp. Gia đình nhỏ phụ quyền là
hình thức phổ biến nhất. Mỗi gia đình chỉ gồm vợ, chồng và con cái chưa
lấy vợ, chồng.

Sinh đẻ: Sắp đến ngày ở
cữ, người chồng thường dựng một cái lều nhỏ cho vợ ở ngoài rừng. Thỉnh
thoảng anh ta đến thăm nom, tiếp tế lương thực và đồ ăn uống cho vợ. Phụ
nữ quen đẻ đứng và tự xoay sở lấy hết thảy mọi việc. Ðẻ xong, người sản
phụ tự mình nhóm lửa, đốt nóng một hòn đá cuội để sẵn rồi dội nước lã
vào cho bốc hơi nóng để xông khói. Sau 7 ngày, người chồng mới đến đón
vợ con vào nhà.

Cưới xin: Trai gái đến
tuổi trưởng thành, được tự do tìm hiểu yêu đương. Trước khi cưới, nhà
trai phải chọn ông mối, đi dạm hỏi vài lần. Lễ cưới được tổ chức bên nhà
gái, sau đó mới đón dâu. Lễ vật quan trọng nhất thiết phải có thịt khỉ
sấy khô. Người Chứt không có tục ở rể.

Ma chay: Nhà giàu làm quan tài bằng thân cây khoét rỗng; nhà nghèo chỉ bó người chết bằng vỏ cây.

Thờ cúng: Tổ tiên được
thờ tại nhà tộc trưởng. Khi tộc trưởng chết, việc thờ cúng chuyển sang
người em trai kế. Khi nào các thế hệ trên không còn ai thì việc thờ cúng
mới chuyển sang cho người ở thế hệ dưới.

Tin vào các loại ma rừng, ma suối, thổ công, ma bếp…. trong đó quan trọng nhất là ma làng.

Các nghi lễ nông nghiệp thường được thực hiện như lễ xuống giống, lễ sau gieo hạt, lễ cúng hồn lúa, lễ ăn mừng được mùa.

Văn nghệ: Người Chứt
thích dùng đàn, sáo, hát các giai điệu khác nhau. Họ có nhiều truyện cổ
tích, thần thoại, đặc biệt truyện kể về sự khai thiên lập địa và sinh ra
con người.

Chơi: Trong các dịp lễ tết, trẻ em chơi cầu lông làm bằng lông gà, đánh găng, người lớn thổi sáo, hát hò.

Theo cema.gov.vn

Add Comment